Vấn đề di truyền – Từ các báo

Thứ năm, 15/11/2001, 09:33 (GMT+7)

Con trai thừa hưởng trí thông minh từ mẹ

Con trai được hưởng nhiễm sắc thể X từ mẹ và Y từ cha, nhưng chỉ có nhiễm sắc thể X là có các gene thông minh.

Nhiễm sắc thể X mà con trai được thừa hưởng từ mẹ chứa tới 2/3 số gene thông minh ở người, trong khi nhiễm sắc thể Y lại không hề có một gene thông minh nào. Đó là thông báo của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Ulm, Đức.

Đến nay các nhà khoa học đều thống nhất rằng trí thông minh là tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó có di truyền và những tác động từ môi trường. Về mặt di truyền, bác sĩ Horst Hameiste, trưởng nhóm nghiên cứu phát hiện các gene thông minh nằm rải rác trên chuỗi ADN, nhưng có tới 2/3 tập trung ở nhiễm sắc thể giới tính X.

Như vậy, trong khi người cha chỉ có thể truyền cho con tính cách thì người mẹ lại truyền cho con toàn bộ trí tuệ. Phát hiện này giải thích vì sao các vĩ nhân đều có những bà mẹ rất thông minh.

Vì gene thông minh của đàn ông tập trung dày đặc ở đoạn nhiễm sắc thể X, nên chúng có thể phát huy hết công dụng. Nhưng mỗi khi bị “hư hỏng”, chúng có thể gây hậu quả khôn lường. Do đó, đàn ông có kẻ thông minh xuất chúng, nhưng cũng có kẻ cực kỳ ngu đần. Ngược lại, gene thông minh của phụ nữ rải đều trên hai đoạn nhiễm sắc thể X, nên trí tuệ của họ quân bình hơn. Có lẽ vì thế mà phụ nữ không có nhiều người thông minh xuất chúng như đàn ông, nhưng số đần độn cũng ít. Hameiste nói: “Xét về khía cạnh gene học thì đàn ông bất lợi hơn nữ giới trong tiến hóa”.

Minh Hy (theo dpa)


Thứ tư, 18/6/2003, 14:47 GMT+7

Nghiện ngập có thể cũng di truyền

Nếu bạn là người nghiện thuốc lá, rượu, hay ma tuý thì con cái của bạn cũng sẽ có nguy cơ mắc nghiện rất cao, vì gene di truyền là một nhân tố quan trọng quy định các thói quen và lối sống của con người.

Một nhóm nghiên cứu (Anh) do tiến sĩ Marcus Munafo đứng đầu, đã đưa ra kết luận như vậy hôm qua, sau khi phân tích lại những dữ liệu từ 46 nghiên cứu trước đó về mối liên hệ giữa di truyền và hành vi trên 20.000 người. Họ nhận thấy kiểu gene có thể quy định cá tính và lối sống của con người.

Nhóm nghiên cứu cho biết các chất truyền thần kinh serotonin (do gene vận chuyển 5HTT-LPR quy định) và dopamine (do gene thụ cảm D4 quy định) đóng vai trò quan trọng trong việc truyền các tín hiệu hoá học về não. Họ phát hiện một biến thể của gene vận chuyển serotonin ở người có mối liên quan mật thiết với kiểu cá tính hay lo lắng (cá tính này dẫn đến ưa sử dụng chất kích thích), còn một biến thể của gene thụ cảm D4 lại có quan hệ với cá tính hướng ngoại (cá tính này dẫn đến thói quen ưa cảm giác mạnh).

Từ đó, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận là serotonin liên quan tới tâm trạng lo lắng, buộc người ta phải dùng chất kích thích để giải toả, còn dopamine liên quan đến các hành vi và thói quen ưa cảm giác mạnh, dẫn đến nghiện ngập.

Theo tiến sĩ Munafo, một số kiểu cá tính do gene quy định, có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn các thói quen như hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma tuý… Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cá tính của một con người hoàn toàn phụ thuộc vào gene. Phương pháp dưỡng dục và môi trường gia đình, bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng cá tính ở mỗi cá nhân.

Dù sao, nghiên cứu này cũng có thể mở ra một hướng mới giúp các nhà khoa học tìm ra biện pháp điều trị tận gốc cho những người nghiện rượu, thuốc lá hay ma tuý.

Tử Vi (theo Reuters)


Thứ ba, 15/7/2003, 17:40 GMT+7

Ợ chua – chứng bệnh di truyền

Ở một số người, “hàng rào” ngăn cách giữa dạ dày và thực quản quá yếu, gây dâng trào axit thường xuyên.

Lâu nay người ta vẫn cho rằng thủ phạm gây chứng ợ chua là những thói quen sinh hoạt hằng ngày và chế độ dinh dưỡng không hợp lý. Tuy nhiên, các nhà khoa học Anh mới đây phát hiện ra rằng, gene cũng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển chứng bệnh này.

Ợ chua là hiện tượng có một lượng nhỏ axit từ dạ dày dâng ngược lên thực quản. Nó kéo theo cảm giác nóng ran trong ngực và có vị chua ở miệng. Vì không có lớp nệm bảo vệ như ở dạ dày nên thực quản dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với axit. Nếu ợ chua nhiều lần, axit dạ dày sẽ làm cho thực quản viêm tấy và cuối cùng dẫn đến ung thư.

Trong 3 thập kỷ gần đây, số người mắc bệnh ung thư thực quản tăng nhanh hơn bất kỳ căn bệnh ung thư nào trên thế giới.

Những yếu tố dễ dẫn đến chứng sợ chua

– Mang thai
– Hút thuốc
– Ăn quá no
– Béo phì
– Cúi gập người nhiều lần
– Mặc quần áo chật, nhất là ở phần thắt lưng.

Để tìm hiểu sâu hơn tình trạng trên, các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Tổng hợp Sandwell (Anh) đã tiến hành khảo sát 2.000 cặp song sinh cùng trứng (giống hệt nhau) và khác trứng (chỉ giống nhau như hai anh em trong nhà). 18% số người này có hiện tượng dâng trào axit dạ dày. Họ nhận thấy, ở những cặp song sinh có một người mắc chứng ợ chua, thì tỷ lệ mắc bệnh ở những cặp cùng trứng cao gấp 1,5 lần so những cặp khác trứng. Thực tế này đã khiến tiến sĩ Nigel Trudgill, trưởng nhóm nghiên cứu, liên tưởng tới mối quan hệ giữa gene và chứng dâng trào axit. Sau một thời gian nghiên cứu và sàng lọc, ông đã tìm thấy gene đóng một vai trò đáng kể gây nên hiện tượng ợ chua: 43%. Phần còn lại thuộc về các yếu tố môi trường.

Theo Trudgill, cấu trúc gene có thể làm suy yếu khả năng tự vệ của các tế bào thực quản trước sự tấn công của axit. Và sự tác động cộng hưởng của một số yếu tố bên ngoài càng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn. Vì thế, “những người mà trong gia đình có lịch sử mắc chứng ợ chua nên thận trọng với các thành phần dinh dưỡng”, Trudgill nhận định.

Mỹ Linh (theo BBC)


Sợ hãi cũng là ‘tài sản’ thừa kế

Sợ hãi – trạng thái tâm lý từ lâu vẫn được xem như một phản ứng thích nghi hình thành trong quá trình sống – dường như đã được lập trình sẵn trong bộ gene của chúng ta. Một nghiên cứu trên các cặp song sinh Thụy Điển cho thấy như vậy.

Tiến sĩ John Hettema, Đại học Virginia Commonwealth ở Richmond, Virginia (Mỹ), và các cộng sự Thụy Điển đã nghiên cứu trên 90 cặp song sinh cùng trứng (có bộ gene giống hệt nhau) và 83 cặp song sinh khác trứng (có bộ gene chỉ tương đồng như anh chị em ruột trong nhà).

Trong nghiên cứu, các cặp song sinh được cho xem một loạt ảnh khác nhau, một số trông khá khủng khiếp, như hình rắn hoặc nhện, và một số trung tính, như hình tròn, hình tam giác. Những người tham gia cũng nhận được một sốc điện nhẹ trong khi đang xem một số bức ảnh. Khi thử nghiệm diễn ra, nhóm nghiên cứu tiến hành đo độ dẫn điện trên da các cặp song sinh. Độ dẫn điện này thông thường tăng lên khi con người rơi vào trạng thái lo lắng hoặc sợ hãi, do sự tăng tiết của tuyến mồ hôi. Phân tích kết quả thu được, nhóm nghiên cứu phát hiện thấy các cặp song sinh cùng trứng có cùng một phản ứng, nhưng những cặp song sinh khác trứng thì phản ứng rất khác nhau.

Cho tới nay, khoa học vẫn cho rằng sợ hãi là một dạng tâm lý mà chúng ta hấp thu được từ cuộc sống, thông qua quá trình học hỏi. Một người từng trải qua một kinh nghiệm đáng sợ thì sau đó sẽ sợ hãi, lo lắng nếu điều này lặp lại (hoặc có thể xảy ra). Quá trình này còn được gọi là sự thích ứng. “Nhưng nay, chúng ta đã có thể nói rằng quá trình hình thành tâm lý sợ hãi ở con người được kiểm soát, ít nhất trong một chừng mực nào đó, bởi các gene”, Hettema nói. Ông cũng cho biết khoảng 1/3 đến một nửa sự thích ứng sợ hãi này dường như là được thừa kế.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, sợ hãi là một trạng thái tự nhiên và là một phản ứng tự vệ cần thiết trước một tình huống nguy hiểm. Nhưng nếu nỗi sợ hãi không tương xứng với tác nhân kích thích nó, hoặc trở thành kinh niên, thì người này bị xem như mắc chứng rối loạn lo lắng. Việc tìm ra nền tảng gene của sự sợ hãi do đó có thể giúp các nhà nghiên cứu phát triển những liệu pháp chữa trị cho những chứng bệnh đó.

B.H. (theo ABConline)

Thứ ba, 20/5/2003, 10:13 GMT+7
Xét về mặt di truyền, tinh tinh là người

Người và tinh tinh có chung 99,4% gene.

Một nghiên cứu mới nhất về sự khác biệt ADN cho thấy, chúng ta có họ hàng gần với tinh tinh tới mức không thể tách thành hai nhóm phân loại khác nhau. Với 99,4% bộ gene giống hệt của người, các nhà khoa học cho rằng tinh tinh đáng được xếp vào chi Homo, thay vì bị đánh đồng với nhóm khỉ hình người như hiện nay.

Theo truyền thống, tinh tinh được xếp đồng hạng với các loài khỉ hình người lớn khác, như gorilla và đười ươi, thuộc họ Pongidae, hoàn toàn tách biệt với họ người Hominiade. Trong nhóm Hominidae, hầu hết các nhà cổ nhân chủng học hiện nay lại phân thành ba chi lớn gồm Homo, Australopithecus hoặc Ardipithecus.

Mới đây, Morris Goodman, thuộc trường Y, Đại học Wayne State (Mỹ), đã so sánh trình tự của 97 gene trên 6 loài, gồm người, tinh tinh, gorilla, đười ươi, khỉ và chuột. Đây là những đoạn ADN được ông coi là quan trọng nhất, bao gồm những gene khi bị thay đổi thì sẽ kéo theo sự thay đổi một trình tự amino axit mà gene đó mã hoá.

Ông phát hiện thấy, người và tinh tinh có 99,4% gene giống hệt nhau. Còn nếu xét trên các gene có thể bị biến đổi mà không ảnh hưởng đến amino axit, tỷ lệ tương ứng là 98,4%.

Sự tương quan này cao hơn nhiều so với sớ lieu 95% mà Roy Britten của Viện công nghệ California công bố vào năm 2002. Goodman cho biết sự khác biệt nhỏ như vậy giữa hai bộ gene của người và tinh tinh chứng tỏ quá trình phân tách hai loài diễn ra trong thời kỳ gần đây, có thể từ 5 đến 6 triệu năm trước. Tuy nhiên Sandy Harcourt, một nhà nhân chủng học tại Đại học California ở Davis, lại cho rằng tinh tinh và người “chia tay” nhau ít nhất cách đây 10 triệu năm.

Trên cơ sở của nghiên cứu này, Goodman đã bổ sung nhóm tinh tinh (Pan troglodytes) và khỉ bonobo (Pan paniscus) vào chi Homo – bao gồm người hiện đại ngày nay và tất cả các hoá thạch thuộc thời kỳ phân tách người – tinh tinh.

Nghiên cứu cũng cho thấy, gorilla là họ hàng gần thứ ba với loài người, kế đến là đười ươi và khỉ. Tất cả chúng đều khác xa về mặt di truyền so với chuột.

B.H. (theo NewScientist)

Thứ ba, 14/1/2003, 08:00 GMT+7

Bệnh loét dạ dày tá tràng mang tính di truyền

12% bệnh nhân điều trị tại Khoa tiêu hóa BV Bạch Mai bị loét dạ dày tá tràng.

Nghiên cứu mới của Đại học Y Hà Nội cho thấy, loét dạ dày tá tràng là bệnh di truyền trội, liên quan tới nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ mắc bệnh ở thế hệ con trong các gia đình có lưu truyền gene bất thường là gần 47%. Đây là những công bố đầu tiên về tính di truyền của loét dạ dày tá tràng ở người Việt Nam.

Kết luận nói trên được nhóm nghiên cứu đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 240 bệnh nhân bị loét đường tiêu hóa, điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai trong cả năm 2000. Trong số này, 11 trường hợp có tiền sử bệnh mang tính gia đình. Phân tích phả hệ của 4 bệnh nhân (với 171 cá thể thuộc 29 chi, 42 gia đình), các tác giả nhận thấy:

– Bệnh di truyền suốt qua các thế hệ, theo kiểu trội. Nam hay bị bệnh gấp đôi nữ.

– Nếu bố và mẹ cùng bị loét dạ dày tá tràng, nguy cơ mắc bệnh ở con tăng cao hơn và bệnh cũng khởi phát sớm hơn.

– Bệnh hay xuất hiện nhất ở độ tuổi 16-39 (gần 53%), chỉ 5% khởi phát ở độ tuổi dưới 15.

Nhóm tác giả đi đến kết luận: Cần chú ý khai thác tiền sử của các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng để phát hiện các ca bệnh mang tính di truyền. Đối với những người này, cần tiến hành xét nghiệm sàng lọc cho anh chị em ruột, nhằm phát hiện sớm các cá thể mang gene bệnh tiềm tàng nhưng chưa biểu hiện. Điều này giúp bác sĩ áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng và điều trị.

Loét dạ dày tá tràng được xếp vào nhóm các bệnh mang tính gia đình. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về tính di truyền của bệnh. Nhiều ý kiến cho rằng loét dạ dày tá tràng có thể di truyền theo kiểu đa nhân tố, nhưng cũng có nghiên cứu kết luận bệnh di truyền kiểu trội theo nhiễm sắc thể thường.

Thu Thảo

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: